GIAI THOẠI LỊCH SỬ VIỆT NAM

*


*

*

*

*

Kỳ thú hòn đá Ông Đùng với dấu chân khổng lồ ở Nghệ An đăng 01:45, 11 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan


Tồn tại trên sườn núi Đá, xóm An Phong, xã Thanh An, huyện Thanh Chương (Nghệ An), từ bao đời nay, đá Ông Đùng được biết đến như là một khối đá thiêng gắn liền với những câu chuyện huyền bí, hấp dẫn ở địa phương.

Bạn đang xem: Giai thoại lịch sử việt nam


Trong dân gian, ông Đùng là một nhân vật mang nhiều đặc điểm huyền thoại (thân thể to lớn, có sức mạnh phi thường, có công dời non lấp bể...). Từ xa xưa ông Đùng được người dân xem là một trong những vị thần khởi thủy, từng để lại dấu tích ở khắp các vùng miền và được nhân dân ở khắp nơi thờ cúng. Tại huyện Thanh Chương, ngoài đá Ông Đùng ở xã Thanh An, còn có đền thờ ông Đùng… Trong ảnh: Núi có đá Ông Đùng ở xã Thanh An. Ảnh: Huy Thư
Đá Ông Đùng độc đáo ở xóm An Phong, xã Thanh An là một khối đá lớn nhô ra trên sườn núi, chiếm diện tích khoảng 15 m2, cao tầm 2,5m. Ảnh: Huy Thư
Khối đá này gồm nhiều vỉa đá chồng xếp lên nhau, màu nâu thẫm, rêu phong, trông như một khối quặng. Ảnh: Huy Thư
Theo người dân địa phương, trước đây, đá Ông Đùng nằm giữa một rừng cây rậm rạp, ít người qua lại. Nay khu vực này đã được người dân trồng keo, nên khối đá được bao bọc giữa vườn keo. Từ chân núi đi lên đỉnh khoảng 80 m là đến nơi khối đá. Đá Ông Đùng nằm dưới tán 1 cây trồi xanh tốt. Ảnh: Huy Thư
Mặt trên của khối đá khá bằng phẳng. Đặc biệt có những vết lõm sâu khoảng 3 cm, dài khoảng 0,4m, rộng tầm 0,15m giống như hình bàn chân người. Các dấu chân “khủng” nằm dọc theo khối đá. Trong ảnh: dấu bàn chân "khủng" trái. Ảnh: Huy Thư
Theo các cụ cao tuổi ở đây, từ bao đời nay, người dân địa phương vẫn truyền tụng câu chuyện về “ông Đùng khổng lồ” và cho rằng đó là dấu chân của ông Đùng để lại trên núi Đá. Tương truyền ông Đùng thường ngồi trên khối đá này để hóng mát và câu cá dưới bàu Trừng. Trong ảnh: Dấu bàn chân "khủng" phải. Ảnh: Huy Thư
Phía dưới khối đá có 1 cái hang nhỏ. Trời mưa, trẻ em đi chăn trâu hay thường ngồi dưới mái đá để trú mưa. Người dân địa phương không rõ đá Ông Đùng có tên từ bao giờ, chỉ biết rằng đó là một khối đá mang nhiều huyền tích cổ xưa, được xem là đá thiêng ở vùng đất này. Thời gian qua, nhiều người hiếu kỳ cũng về đây "mục sở thị" đá Ông Đùng Ảnh: Huy Thư
Theo cụ Nguyễn Viết Giai (73 tuổi) ở xóm An Phong, xã Thanh An (Thanh Chương): Ngày trước dưới chân núi Đá là bàu Trừng. Đối diện với đá Ông Đùng qua bàu Trừng là ngôi chùa cổ dựng trên núi Chùa. Chùa có cây đa cổ thụ, giếng nước và 1 ngôi mộ cổ (trên mộ có dòng chữ Hán). Sau khi chùa bị dỡ, mộ cổ bị đập, chỉ còn lại cây đa. Năm 1985, ông Nguyễn Quốc Thuyết, cày nền chùa để trồng sắn đã phát hiện 1 thúng tiền đồng. Ngay sau đó, không ít các nhóm người lạ mang máy dò kim loại đến lùng sục tìm của cải dưới lòng đất quanh khu vực đá Ông Đùng. Trước sự việc đó, một người dân trong vùng đã mang búa đến đập hết “các ngón chân” trên đá Ông Đùng, nhằm xóa "mũi chỉ hướng" để người lạ khỏi tìm kiếm. Từ đó dấu chân “khủng” trên đá Ông Đùng không còn hình những ngón chân và phong trào đi tìm của cải ở đây cũng lắng xuống. Trong ảnh: Cây đa còn sót lại trên đỉnh núi Chùa. Ảnh: Huy Thư
Cũng liên quan đến ông Đùng, ở xã Thanh Xuân (Thanh Chương) lại có một ngôi đền cổ mang tên đền Ông Đùng. Ông Nguyễn Cảnh Lân (78 tuổi) - người dân địa phương cho biết: Đền được xây dựng từ hàng trăm năm trước để thờ bản cảnh Đùng Sơn. Đây là ngôi đền thiêng của làng Xuân Điền xưa (nay là xóm Xuân Lan). Do hư hỏng xuống cấp, đền mới được khôi phục lại năm 2009. Ảnh: Huy Thư
Trước đền Ông Đùng có giếng Ông Đùng, nước trong, ngọt mát, là nguồn nước quý của làng. Khi đền Ông Đùng được khôi phục, người dân cũng tôn tạo lại giếng cổ này. Đá Ông Đùng cũng như đền Ông Đùng đang được người dân các địa phương gìn giữ, bảo vệ. Ảnh: Huy Thư
Huy Thư
Tướng quốc Nguyễn Xí và chuyện ‘mượn tên’ quân giặc đăng 05:38, 5 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan


Nguyễn Xí (1396-1465), sinh ra ở xã Thượng Xá, huyện Chân Phúc xưa, nay là xã Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông vốn quê gốc làng Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (thân phụ là ông Nguyễn Hội, thân mẫu là Võ Thị Hạnh).Năm lên 9 tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ, Nguyễn Xí theo anh đến ở làm gia nô cho cụ Lê Khoáng (thân phụ của đức Lê Lợi), một hào trưởng giàu có của vùng núi xứ Thanh. Ông rất thông minh, nhanh nhẹn, tỏ rõ người tài, có hùng chí. Vì thế, Lê Lợi rất quý trọng, giao cho Nguyễn Xí chăm sóc đàn chó săn hơn một trăm con.
Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép rằng: “Vua sai Nguyễn Xí nuôi đàn chó săn gồm hơn 100 con. Sớm chiều chia cơm cho chó ăn, ông đều dùng chuông làm hiệu lệnh. Bầy chó theo sự điều khiển, huấn luyện của ông, tiến thoái răm rắp".
Bức tượng Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí tại đền thờ ông ở xã Khánh Hợp (Nghi Lộc). Ảnh: Đào Tuấn
Trong bước đường chiến chinh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đàn chó của Nguyễn Xí trở thành đội quân đặc biệt. Do được huấn luyện chu đáo, điều khiển bằng nhạc hiệu nên từ ăn, ngủ, tấn công, chúng đều theo hiệu lệnh.Những lúc nghĩa quân bị vây hãm, hết lương thực, đàn chó đi săn thú, bắt chim về làm thức ăn. Khi xung trận, Nguyễn Xí điều khiển bầy chó lăn xả vào trận mạc làm quân giặc hoảng sợ, kinh hồn bạt vía. Tên tướng giặc Minh là Mã Kỳ, mỗi khi nghe đến đội quân khuyển của Tướng quốc Nguyễn Xí thì hết sức kinh hãi.Trong giai đoạn cuối năm 1426 đến năm 1427 là thời kỳ Bộ tổng chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn mở các cuộc tổng tấn công quyết chiến chiến lược đại quy mô trên toàn tuyến, công thành, phá đồn, diệt viện, vì vậy, nhiều khi vũ khí không sản xuất kịp để cung cấp, bổ sung cho các cánh quân chủ lực, nhất là hàng vạn mũi tên bọc đồng.Vì vậy, có lần Tướng quốc Nguyễn Xí đã nghĩ ra kế “mượn tên giặc”. Ngài cho buộc vào cổ đàn chó những chiếc đạc ngựa, khi chó chạy sẽ phát ra tiếng kêu như kỵ mã. Ban đêm, ông dẫn quân đến vây trại giặc Minh rồi cho đánh trống reo hò ầm ĩ, truy phong cho đàn khuyển chạy vòng quanh trại giặc.Quân Minh nghe tiếng đạc ngựa, lại thấy tiếng trống thúc, quân reo dậy trời rất hốt hoảng tưởng bị tấn công, nhưng không rõ binh lực thế nào trong đêm tối hư hư, thực thực nên không dám ra đánh. Chúng đành dùng cung nỏ từ trong trại bắn ra như mưa. Cứ làm như vậy đến gần sáng, nghĩa quân thu nhặt được hàng vạn mũi tên.Nghĩa quân Lam Sơn và Nhân dân hết lời ca ngợi Nguyễn Xí, xem việc lập kế lấy tên giặc không kém gì mưu của Khổng Minh dùng người rơm “mượn tên” của quân Tào trong trận Xích Bích thời Tam Quốc.Trong 10 năm kháng chiến gian khổ, Nguyễn Xí cùng đàn chó của mình tham gia nhiều trận đánh quan trọng như cuộc vây hãm thành Đông Quan, hạ thành Xương Giang, hay như chiến dịch tiêu diệt và bắt sống gần 10 vạn quân Minh sang tăng viện tại Chi Lăng năm Đinh Mùi (1427)...
Để tôn vinh công lao Nguyễn Xí, dòng họ Nguyễn Đình và Nhân dân lập đền thờ ông vào năm 1467. Ảnh: Thành Cường
Khi sự nghiệp kháng chiến thành công, Lê Lợi lên ngôi Vua (Lê Thái Tổ), phong cho Nguyễn Xí làm Long Hổ thượng tướng quân, tước Huyện hầu, là bậc khai quốc công thần của triều Hậu Lê và được ban quốc tính (họ Vua).
Năm 1433 trước khi chết, Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã để lại di chiếu cho Nguyễn Xí phò tá Thái tử Lê Nguyên Long 11 tuổi lên nối ngôi (Vua Lê Thái Tông). Suốt 8 năm ở bên cạnh Vua làm phụ nhiếp triều chính, ngài đã hoàn thành xuất sắc di nguyện, khuông phò xã tắc, hộ quốc an dân, qua 2 niên hiệu Thái Bình, Đại Bảo.Năm 1442, Vua Lê Thái Tông đột ngột băng hà, hoàng hậu và các đại thần lại tiến cử Thái bảo Nguyễn Xí (chức thứ 3 trong Tam thái) giúp rập ấu chúa Lê Băng Cơ mới hơn 1 tuổi lên nối ngôi (Vua Lê Nhân Tông).Tháng 6 năm 1460, Nguyễn Xí cầm đầu nhóm các đại thần làm cuộc phản đảo chính lật đổ Lê Nghi Dân, cứu vương triều nhà Lê đang chìm trong loạn lạc và oan khuất. Đưa Hoàng tử Lê Tư Thành (Hoàng tử thứ tư của Vua Lê Thái Tông) lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Lê Thánh Tông (thuần Hoàng đế). Mở ra triều đại cực thịnh, phát triển trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam…Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí làm quan trải qua 4 đời vua, nắm giữ những chức vụ quan trọng của triều đình như Thái bảo, Thái phó bình chương quân quốc trọng sự (Tể tướng), Nhập nội hữu tướng quốc (Tể tướng thứ nhất), đến Thái úy, tước Quỳ quận công.Năm Ất Dậu (1465), ông lâm bệnh rồi mất, thọ 69 tuổi, triều đình truy phong là Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, thượng, thượng, thượng đẳng phúc thần.
Đánh giá về Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, Vua Lê Thánh Tông từng viết: “…Khí độ trầm hùng, tính người cương đại. Giúp Cao Hoàng (Vua Lê Lợi) khi mở nước trăm trận gian nan, phò Tiên khảo (Vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông) giữ giang sơn, hết lòng giúp rập; ra ngoài thì trọn chức tướng võ, vào trong thì vẹn phận tướng văn, nghĩa tôi con thật khó có ai sánh kịp… Các quan đều tưởng mộ phong thái, bốn biển đều ngưỡng vọng uy danh…”.
Đình Cương 
(Sưu tầm)
Nam Châm, huyền tích và hiện thực đăng 05:51, 9 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan


Núi Nam Châm nay có các bể chứa sản phẩm của Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất vốn xưa đã ghi dấu ấn trong ca dao, lịch sử, với nhiều huyền tích.

Xem thêm: Sim Dcom 3G Viettel Giá Tốt Tháng 4, 2022, Sim Dcom 3G/4G Viettel Vào Mạng Không Giới Hạn


Một ngày những năm đầu thập niên chín mươi thế kỷ XX, tôi đến làng Trung An, xã Bình Thạnh (Bình Sơn) ngay bờ tây cửa Sa Cần. Bà cụ vợ ông Lê Văn Ba, cách mạng lão thành huyện Bình Sơn, hát cho tôi nghe nhiều câu ca dao thuở trước, mà bốn câu sau đây mới đầu tiên được nghe và chưa từng được ghi vào bất cứ sách vở nào: "Hòn Ông, hòn Kẽm, hòn Bà/ Hòn Ông ai đắp, Cổ Ngựa mà ai xây/ Ai làm đó hiệp cùng đây/ Núi Nam Châm há dễ một cây nên rừng".Tất cả các “hòn” đều nằm ở chung quanh cửa Sa Kỳ - vịnh Dung Quất. Người ta mượn hình ảnh các núi ở ven biển để nhắn nhủ nhau, gửi gắm tâm sự cùng sống nương tựa nhau. Như núi sông, như cây rừng.Núi Nam Châm nằm ở xã Bình Thuận (Bình Sơn) cao 135m, gồng mình ra biển, tạo nên mũi đất nhọn cùng tên. Núi được định danh bằng chữ Hán, có tên gọi như vậy từ thời xa xưa. Khi được phiên vào chữ quốc ngữ được ghi là Nam Trâm hay Lâm Châm. Có lẽ do thổ âm địa phương mà khi người ta phiên tên gọi này trong sách vở có khác nhau. Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ của nhà sáng chế chữ quốc ngữ nổi tiếng là cố đạo Tabert ấn hành năm 1838 ghi là “mũi Lâm Châm”, trong khi bản đồ do chính quyền thực dân Pháp xác lập đầu thế kỷ XX ghi là “Cap Nam Trâm”. Cap là mũi đất, Trâm có lẽ là trệch âm của Châm. Cũng như vậy, theo quán tính phát âm người địa phương mà Nam Châm biến thành Lâm Châm.Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi là núi Nam Châm và viết: “Nằm cách huyện Bình Sơn 25 dặm về phía nam. Núi gối lên bờ biển làm thành mỏm Nam Đẩu. Phía bắc gần mỏm Đầu Ngựa, phía nam gần mỏm Tổng Binh. Đỉnh núi rất cao, thuyền của nước Thanh (Trung Quốc) trên đường biển đi về nam thường dùng núi này làm mốc để định vị trí”. Hai chữ Nam Châm ghi bằng chữ Hán, trong đó chữ Nam có nghĩa là phía nam, còn chữ Châm nghĩa là cây kim, hay vật có đầu nhọn, hay kim chỉ hướng, nam châm là kim chỉ hướng Nam, gần với ý nghĩa mà sách Đại Nam nhất thống chí đã ghi.
Bài Vè các lái của người buôn ghe bầu ra Bắc vào Nam có đưa điểm Nam Châm làm một dấu mốc để xác định hải trình: "Sa Cần, Châu Ổ bao xa/ Lâm Châm, Cây Quýt thiệt đà Tổng Binh".Lâm Châm tức Nam Châm, còn Cây Quýt tức vịnh Kỳ Quýt hay vịnh Dung Quất. Tổng Binh là nơi tương truyền đóng hành dinh của vua Lê Thánh Tông trong cuộc Nam chinh lịch sử năm 1471. Trước đó, để chuẩn bị cuộc hành binh này, vua đã cho vẽ địa đồ và các địa danh trong vùng lưu truyền đến bây giờ rất có thể từ các sự kiện ấy mà ra. Phía bắc là mũi Nam Châm, phía nam là mũi Tổng Binh hay Phước Thiện choài ra biển lớn, ở giữa hai mũi bờ biển lõm vào, làm thành vũng Việt Thanh phía đông xã Bình Thuận và Bình Trị, cũng tức là phía đông NMLD Dung Quất.Một sự kiện liên quan đến lịch sử ít người biết là tháng 11.1944, máy bay của phát-xít Nhật đâm đầu vào núi Nam Châm vỡ vụn, hai phi công nhảy dù bị cây nhọn đâm suýt chết, bọn quan binh Nhật và tay sai phải hối thúc dân đi cứu nạn. Từ đó mà người ta nghĩ núi có lực hút nam châm (có sức hút kim loại) và từ đó xuất hiện tên núi Nam Châm. Cách suy luận này mang đậm dấu ấn chủ quan, vì tên núi như đã nói có từ thời xưa, không phải sau này và máy bay Nhật rơi chắc hẳn vì một lý do khác, chứ không phải do nam châm (nếu có) ở núi hút.Năm 2016, tôi đi dọc phía tây vịnh Dung Quất, nhìn về bờ đông vịnh, thấy núi Nam Châm vươn cao, lờ mờ trong sương khói và các bể chứa sản phẩm dầu dưới chân núi. Núi bây giờ mang dáng vóc công nghiệp. Giữa năm 2020, tôi đi dọc thôn Tuyết Diêm ngược ra hướng bắc xã Bình Thuận, đến mũi Cổ Cò nhọn như một mũi tên, nhìn xuống bãi biển cát vàng huyền ảo, lại nhìn về hướng nam thấy núi Nam Châm đứng vươn mình ra biển lớn thật kiên gan, hùng vĩ. Lại nhớ về huyền tích xa xưa.Đi vào câu hát ca dao, vào sử sách, nằm gối đầu lên bờ biển và có dân cư sinh tụ chung quanh từ lâu đời, kỳ thực núi Nam Châm vốn có hệ động thực vật khá phong phú. Trên núi ngoài cây rừng còn rậm rịt các loại dây leo, đặc biệt là dây mây; từ đó núi trở thành nơi trú ẩn của nhiều loài động vật, đặc biệt có nhiều trăn, khỉ. Người địa phương kể, khi chèo thuyền dưới chân núi nhìn lên, thấy từng đàn khỉ dắt nhau đi hái trái cây ăn.Do vị trí núi lại nằm ngay ở mé bắc NMLD Dung Quất, người ta cải tạo lại đất núi để xây dựng kho chứa sản phẩm của NMLD. Điều hết sức gây cảm xúc là trước đó, người ta còn thấy nhiều bầy khỉ dắt nhau xuống bãi cát biển để bắt cá, từ khi xây dựng kho chứa, khỉ cõng con dắt díu nhau đi đâu không ai biết. Chuyển từ hoang sơ đến công nghiệp phải có sự hy sinh không tránh khỏi và để lại nhiều niềm luyến tiếc không nguôi.
CAO CHƯ

Chuyện Thầy Thím ở núi Sập đăng 05:34, 20 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan


Nhắc đến Thầy Thím là người ta nghĩ ngay đến Dinh Thầy Thím ở La Gi, Bình Thuận. Sự tích Thầy Thím nơi đây được truyền tụng rất nhiều, được ghi chép và kể lại khắp miền Trung và Nam bộ chớ không chỉ ở La Gi. Dinh Thầy Thím rất uy nghi, to rộng, có tiếng là linh thiêng, hàng năm đều có lễ hội trọng thể. Lại còn có cả khu mộ Thầy Thím nữa.Câu chuyện về Thầy Thím được tóm tắt thế này: Thầy là một đạo sĩ tài năng, giàu lòng nhân ái ở Quảng Nam, Thím là vợ của Thầy. Do bị vua xử oan ức, Thấy và Thím cỡi rồng bay về phương Nam, đến trú ngụ tại làng Tam Tân, thuộc La Gi. Từ đó Thầy Thím ra sức giúp đỡ dân làng về nhiều mặt. Khi hai người mất, dân làng biết ơn nên lập dinh để thờ.Tưởng đâu câu chuyện Thầy - Thím này là độc nhất, nhất là việc ghép giữa Thầy và Thím khá lạ, thế nhưng xuôi về phương Nam ta lại bắt gặp câu chuyện Thầy Thím với mô-týp tương tự.
Câu chuyện này được nhà văn - nhà biên khảo Sơn Nam kể lại trong Chuyện xưa tích cũ, và sau đó là trong Lịch sử đất An Giang. Ở đây xin trích lại nguyên văn câu chuyện kể của ông trong Lịch sử đất An Giang“Chuyện Thầy Thím"
 du nhập từ Quảng Nam, đến núi Sập, người lớn tuổi còn kể lại vài nét chính. Hôm ấy, dân ở chân núi Sập thấy nguời ngồi trên ngọn dừa, như ẩn núp, bèn tri hô có kẻ ăn cắp dừa. Một ông lão xuất hiện, từ ngọn dừa tuột xuống, giải thích chẳng qua là mùa nắng hạn, trên chót núi suối đã cạn nên lén xuống xóm, hái trộm trái dừa để giải khát. Ông lão thú nhận đã tu tiên trên chót núi hơn mươi năm qua, ai muốn thăm thì theo con đường mòn, gần đấy. Vài người tò mò đến, thấy cái thảo am cất sơ sài, lau sậy mọc sát vách và trong nền. Tấm vải đỏ (màu tiêu biểu của người tu tiên) treo trên đòn dông. Ông lão nói thật thà: “Từ rày về sau, trong xóm, hễ trẻ con mang bệnh thì đưa lên, sẽ điều trị dùm". Mỗi khi gặp trẻ con đau ban, làm kinh phong, ông xé một miếng vải nhỏ, ở chéo áo nâu sòng, bảo người nhà đốt miếng vải, hòa với nước. Trẻ con được thuyên giảm ngay, mười trường hợp như một. Nhờ vậy, tiếng lành đốn xa. Người nọ mang bệnh điên, thân nhân đưa lên am, van nài. Thầy ra lệnh đem cái thớt to và cây dao bén, chặt bệnh nhân ra làm hai khúc, thả xuống sông. Khúc đầu của bệnh nhân trôi ngược dòng, khúc chân thì trôi xuôi dòng, lát sau, hai khúc từ từ ráp lại, bệnh nhân về nhà, thuyên giảm rõ rệt. Có kẻ tò mò, lên rình rập, đứng ngoài vách, nghe thì thào, như thầy đang nói với người đàn bà nào đó. Thầy bước ra: "Ta là "thầy", vợ của ta là "thím", người khuất mặt. Đừng tò mò, có hại. Lần đầu, ta tha tội cho. Đừng ngạo mạn nữa". Vì vậy gọi ông lão là “Thầy Thím”.Vị “Đại thần" nọ cho mời thầy đến để điều trị đứa con đau trầm kha từ bốn tháng qua. Xem xong, thầy lắc đầu ra về. Vị đại thần chạy theo, nài nỉ. Thầy trở lại, xem kỹ, hỏi thăm vài chi tiết rồi nói: “Nặng lắm." “Thượng động Cố Hỉ". Công tử mang bệnh nhằm giờ hung, mạng của công tử trùng với mạng của bản đạo. Nếu điều trị thì bản đạo sẽ chết. Trong hai người, phải có một người sống và một người chết. Bần đạo chết còn ai giúp đỡ bà con xóm này". Nói vậy chớ thầy vẫn ở lại, đốt đèn sáp, vẽ bùa. Rồi từ giã, lên núi, gương mặt buồn thảm. Vài ngày sau, cậu công tử hết bệnh. Dân làng lên thảo am, thấy ông lão nằm xuôi tay, mình mẩy lạnh ngắt, đã chết từ hôm trước. Bèn làm lễ hỏa thiêu, thân xác ông lão cháy ra tro nhung còn sót lại một lóng tay nguyên vẹn, lóng tay ấy đặt trong tháp, bên cạnh. Xây miếu thờ, gọi nôm na miếu là chùa. Vía của thầy nhằm mùng 5 tháng 5, vài người bảo thầy tên là Sang, chẳng biết họ gì."
So sánh 2 câu chuyện, ta thấy ở cả 2 nơi thầy đều là đạo sĩ xuất thân từ Quảng Nam lưu lạc đến địa phương, vợ Thầy gọi là Thím, thầy chữa bịnh giúp dân làng và mất tại nơi đấy luôn, được dân thờ phượng.
Điểm khác nhau là: Cùng ở trên trời rơi xuống nhưng thầy La Gi thì cỡi rồng còn thầy núi Sập thì từ trên núi xuống trèo lên cây dừa. Thầy Thím La Gi là 2 nhân vật hiện hữu, trong khi Thím ở núi Sập là người khuất mặt.
Và điều khác nhau cơ bản: Thầy Thím ở La Gi được thờ cúng rất trang trọng với những nghi lễ và lòng thành kính rất cao, được nhiều người biết, có Dinh thờ uy nghi; còn Thầy Thím ở núi Sập thì hiếm người biết tới, theo truyện kể thì có miếu thờ nhưng giờ miếu ấy ở đâu, có còn không thì chẳng ai biết.